Censorship, like charity, should begin at home; but, unlike charity, it should end there
Avatar

TuanAnh

Vcard Download vCard   what is this?
Rss_icon

Recent Activity


Filter by:
All
  • Dại khờ - Xuân Diệu Người ta khổ vì thương không phải cách,
    Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người
    Có kho vàng nhưng tặng chẳng tuỳ nơi
    Người ta khổ vì xin không phải chỗ.

    Đường êm quá ai đi mà nhớ ngó
    Đến khi hay, gai nhọn đã vào xương
    Vì thả lòng không kiềm chế dây cương,
    Người ta khổ vì lui không được nữa.

    Những mắt cạn cũng cho rằng sâu chứa;
    Những tim không mà tưởng tượng tràn đầy.
    Muôn nghìn đời tìm cớ dõi sương mây
    Dấn thân mãi đến kiếm trời dưới đất.

    Người ta khổ vì cố chen ngõ chật,
    Cửa đóng bưng nên càng quyết xông vào.
    Rồi bị thương người ta giữ gươm dao,
    Không muốn chữa, không chịu lành thú độc.

    Xuân Diệu
    ----------
    Bài Thơ Đôi Dép
    (st)
    Bài thơ đầu anh viết tặng em
    Là bài thơ anh kể về đôi dép
    Khi nỗi nhớ ở trong lòng da diết
    Những vật tầm thường cũng viết thành thơ

    Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
    Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nữa bước
    Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
    Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau

    Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
    Cùng chia sẻ sức người đời chà đạp
    Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
    Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia

    Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
    Mọi thay thế đều trở nên khập khiểng
    Giống nhau lắm nhưng người đời sẽ biết
    Hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu

    Cũng như mình trong những lúc vắng nhau
    Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
    Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
    Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

    Đôi dép vô tri khắng khít song hành
    Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
    Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
    Lối đi nào cũng có mặt cả đôi

    Không thể thiếu nhau trên bước đường đời
    Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
    Nhưng tôi yêu em bởi những điều ngược lại
    Gắn bó đời nhau bằng một lối đi chung

    Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
    Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
    Chỉ còn một là không còn gì hết
    Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia .
    ----------
    Qua thăm blog bạn CÚC nhớ 2 bài này, copy về cho lúc đang tâm trạng.
  • ...thình thịch.. ...thình thịch...thình thịch...thình thịch...
    -note tâm trạng lúc này, vài hôm del. nhưng chắn chắn có trong nhật ký viết tay :)
    chúc ngủ ngon
  • bóng đá tôi yêu bóng đá
  • How To Successfully Work From Home

    by CRAIG

     on MARCH 26, 2010

    There are two major categories of people who work from home.

    First, there are the employed who are either full time or part time working from their own home.  Many companies are starting to allow workers to work from home one or more days a week.

    Second, there are the self-employed who own their own or start their own small business and set their own schedule.

    Either way, there will be an adjustment for anyone who starts to work at home.

    For the last four years, as a missionary, I’ve done all my work at home with a very minimal amount of accountability.  Here are some tips I’ve learned about adjusting to working at home.

    How To Successfully Work From Home

    When I talk about successfully working from home, I’m not going to talk about how to make bundles of money.  I’m going to talk about how to keep a good healthy personal life and ahealthy family life, while being effective on the job.

    Set clear boundaries.

    When you start to work from home, you will find what were clearly two worlds have now collided into one.  In order to help balance the work and personal life, you must clearly communicate and set boundaries.  For example, in my house we have an understanding that, even though I’m around, I’m not.  The only exception is if there is an emergency.

    In many ways, this is a dumb guideline.  However, I’ve felt a lot more at peace since my wife and I agreed on setting these boundaries.

    Designate a work space.

    There must be a physical place where you ‘go to work’.  Fortunately, in my case I actually walk out the front door and downstairs when I ‘go to work’.  This way I kiss the kids and my wife goodbye.  Even though I can hear when my kids are watching Dora or crying because they ran into the wall, there is something about that sacred office space.  There is a mental trigger when I enter the office.

    You must have a clear home area and work area.  If not, it will be impossible to get away from work.  In my case, in addition to my missionary work, I also blog (you didn’t know that?).  Certain things like shutting down the computer at designated times and keeping the computer out of the bedroom are important ways to have clear space distinctions between home and work.

    Find a way to mentally transition from home to work.

    Several days a week, I come home after doing some visiting outside of the house.  During those days, my drive home is a time for me to mentally switch between missionary to husband/father (a switch I don’t always make too well).

    However, on days when I come up from the office, I need some ‘transition time’.  Typically, this means I take 10 – 15 minutes alone before engaging with the family.

    Communicate with your children.

    My kids love to play outside my open windows.  I love for them to play there.  Sometimes, they just miss their daddy and try to sneak into the office.  While I enjoy being with my kids, I know that without clear boundaries they will always be in my office.  As a result, they usually ask mommy if it is OK for them to come see daddy.  In some ways, it’s not fair for my wife to serve as my secretary, but on the other hand, I certainly appreciate an extra line of defense.

    Occasionally, I even ask the kids to come into the office.  It becomes a special way to honor them by allowing them into the office..

    Use work phrases.

    This is mostly for our kids, but we use ‘work phrases’.  I kiss my kids goodbye and say, “Daddy’s going to work.”  In a lot of ways it seems silly, but it is an easy way to communicate that I’m going to be occupied in a certain way.

    Get separate phone lines.

    People who have a work related question should be able to call me directly.  My wife, with three young kids, is far too busy to be playing secretary for me.  On the other hand, when friends want to call my wife, they should have a line to get in touch with her without interrupting me.

    Keep accounts separate.

    If you work for yourself, keep all your accounting separate.  Poor financial organization can be costly when you work at home.  Keep all your business receipts and expenses for tax season. (Editor’s note: Here is how Ryan manages his small business finances).

    Keep strict hours.

    This probably isn’t for everyone, but in our case I have ‘post hours’.  My wife knows when I’m going to work and when I’m coming home.  No one told me what time I should start or finish, but we both feel much better having designated hours.

    Enjoy lunch at home.

    Working from home has some amazing benefits.  In my case, I get to eat lunch at home with my wife and kids almost every day.  Be sure to take advantage of the unique opportunities associated with working from home.

    Take a nap every day.

    I should have been born in Europe.  The Europeans don’t think someone is lazy because they take naps.  About six years ago, I started taking a ‘power nap’ during lunch.  Actually, I have no idea what a power nap is, but I usually sleep 15 minutes during lunch 3-5 days a week.

    After eating lunch with my family, I get a quick nap and head back to work. If you work from home, you should consider adding a nap to your work schedule :) .  Sleep and renewal is not a sin.

    If you work from home, what do you do in order to be successful?

    Posted via email from TuanAnh Nguyen

  • BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ: NHỮNG VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TỪ THỰC TIỄN


    LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch HĐTV Công ty Tư vấn VFAM Việt Nam
    Để huy động triệt để nguồn vốn đang nhàn rỗi trong nhân dân tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên góp vốn, các cổ đông chỉ góp vốn với một tỷ lệ nhỏ ( gọi chung là các cổ đông thiểu số). Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định của Luật Doanh nghiệp trong thực tế đã và đang gặp một số vướng mắc lớn cần được nghiên cứu, tháo gỡ.
    Quy định của Luật
    Về việc thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định như sau:
    “3. Quyết định của đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi có đủ các điều kiện sau đây:
    a) Được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định;
    b) Đối với quyết định về loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác thì phải được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định”.
    Khoản 2 Điều 52, cũng có quy định tương tự đối với việc thông qua các quyết định của hội đồng thành viên của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên.
    Những vướng mắc từ thực tiễn…
    Trước hết, quy định nêu trên của Luật Doanh nghiệp là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông thiểu số. Song, do quá nhấn mạnh đến việc bảo vệ các cổ đông thiểu số nên không ít trường hợp gây những khó khăn không đáng có cho việc quản trị công ty. Các cụm từ: “ít nhất 65%”, “ít nhất 75%” và “tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định” là nguyên nhân gây khó khăn cho việc quản trị các công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên và các công ty cổ phần. Xin nêu một ví dụ điển hình như sau:
    Công ty cổ phần A có 5 cổ đông sáng lập và tỷ lệ vốn góp của các cổ đông trong vốn điều lệ lần lượt là: Cổ đông số 1: 70%; cổ đông số 2: 10%; cổ đông số 3: 10%; cổ đông số 4: 5% và cổ đông số 5: 5%. Khi quy định về tỷ lệ số phiếu chấp thuận ít nhất để thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông, các cổ đông tối thiểu không chấp nhận tỷ lệ 65%. Và, cổ đông nào cũng đòi hi có quyền tham gia biểu quyết để thông qua quyết định của đại hội đồng cổ đông nên tỷ lệ cụ thể quy định tại điều lệ công ty là 96%. Với tỷ lệ nêu trên, cổ đông số 1 nắm giữ tới 70% vốn điều lệ cũng không có vai trò quyết định; ba cổ đông có số vốn góp lớn chiếm tới 90% vốn điều lệ vẫn không thể quyết định được những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông. Và, mặc dù quy định với tỷ lệ 96% nhưng trên thực tế, luôn luôn phải có đủ 5 cổ đông tham gia họp, tức là bảo đảm tỷ lệ 100%. Về hình thức, quy định như trên là rất dân chủ, minh bạch. Song, quyền của những cổ đông góp vốn với tỷ lệ chi phối đã không được tôn trọng; nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh bị mất vì… đại hội đồng cổ đông không đủ số phiếu biểu quyết! Với những công ty cổ phần có từ 10 cổ đông sáng lập trở lên, vấn đề trở lên phức tạp hơn nhiều lần.
    Thứ hai, tiết c, khoản 3 Điều 104 Luật Doanh nghiệp quy định: “c) Việc biểu quyết bầu thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng số phiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành viên được bầu của hội đồng quản trị hoặc ban kiểm soát và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếu bầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên”. Tiếc thay, cho đến nay, chưa có văn bản chính thức nào hướng dẫn về phương pháp “cộng dồn phiếu” theo quy định trên. Vì vậy, một số công ty cổ phần đã sáng tạo và đưa ra quy định: xác định số phiếu biểu quyết quy đổi theo tỷ lệ vốn. Chẳng hạn, trong điều lệ công ty quy định, mỗi phiếu biểu quyết đại diện cho 10% vốn góp. Một cổ đông chiếm 70% số vốn điều lệ đương nhiên có bảy phiếu biểu quyết, cổ đông chỉ chiếm 10% vốn điều lệ thì đương nhiên chỉ được tính là 01 phiếu. Song, cách “vận dụng sáng tạo” ấy có được pháp luật thừa nhận hay không?
    Thứ ba, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng một số lĩnh vực còn được mở cửa theo lộ trình. Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nắm giữ tối đa 49% hoặc 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp. Do đó, khoản 3 Điều 104 nêu trên sẽ không thể được áp dụng với một công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên, trong đó, một bên là doanh nghiệp Việt Nam và một bên là nhà đầu tư nước ngoài. Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội khoá XI về việc “Phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có quy định giải quyết vướng mắc này. Khoản 1, Phụ lục số 1 kèm theo Nghị quyết 71/2006/QH11 quy định việc áp dụng trực tiếp các Điều 51, 52, 103, 104 Luật Doanh nghiệp, tương ứng với Đoạn 503 và Đoạn 504 trong Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (sau đây gọi là Ban công tác) đã quy định:
    Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quyền quy định trong điều lệ công ty các nội dung sau:
    1. Số đại diện cần thiết để tổ chức cuộc họp và hình thức thông qua quyết định của hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông;
    2. Các vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông;
    3. Tỷ lệ đa số phiếu cần thiết ( kể cả tỷ lệ đa số 51%) để thông qua các quyết định của hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông;
    Quy định nêu trên của Nghị quyết 71/2006/QH11 đã tháo gỡ vướng mắc do quy định của Luật Doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tiếc thay, cho đến nay, có những cách giải thích khác nhau về quy định này. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, những quy định nêu trên của NQ71 chỉ được áp dụng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, đó là quy định chung cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có nghĩa là sẽ phải sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp theo quy định nêu trên. Trong hai loại ý kiến nêu trên, ý kiến nào là đúng?
    Thay lời kết
    Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là sự kiện có ý nghĩa lớn ở nước ta. Nó mở đầu cho quá trình tuyên chiến, chấm dứt sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, do quá trình chuẩn bị khá gấp nhằm theo kịp tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Luật Doanh nghiệp còn có những “hạt sạn” không đáng có. Đồng thời, việc hướng dẫn, giải đáp luật chưa tốt, chưa triệt để dẫn đến những lúng túng trong thực hiện cả ở cơ quan đăng ký kinh doanh và trong việc quản trị, điều hành doanh nghiệp. Sự mâu thuẫn giữa việc bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số với sự linh hoạt cần thiết trong điều hành doanh nghiệp theo yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường như nêu trên là ví dụ điển hình.
    Thiết nghĩ, đã đến lúc cần dũng cảm chỉ ra tất cả những “hạt sạn” của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và kiên quyết sửa đổi, bổ sung để loại bỏ những “hạt sạn” ấy dù thẩm quyền là của Quốc hội, Chính phủ hay bất kỳ một cấp quản lý nào khác. “Thương mại không phân biệt đối xử” là nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất trong WTO. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp cũng không được vi phạm nguyên tắc quan trọng đó.
    SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ SÔ 51, THÁNG 9 NĂM 2007
  • Nắm bắt 4 loại cá tính để giao việc đúng


    Posted 4/3/2009 10:45:20 AM by Quản lý mới (Guest)Under L&M SkillsLast comment 4/3/2009 2:32:35 PM
    Nguyễn Thanh Khiết Quản lý suy cho cùng là việc huy động tối đa năng lực của những người dưới quyền mình vào công việc chung. Muốn “dụng nhân tựa dụng mộc” thì phải hiểu về “nhân” Vận dụng Lý thuyết hệ thống xin được đưa ra một phương pháp mới tiếp cận cá tính con người. Phương pháp này xin được lấy tên là: Tiếp cận cá tính con người bằng Lý thuyết hệ thống. Cơ sở lý luận của phương pháp này dựa trên quan niệm: con người nhìn vào tính cách là một "hộp đen" (black box); điều đó có nghĩa là ta không thể nhìn thấy những gì xảy ra trong tư duy của con người, không thể lý giải được tại sao đứng trước cùng một sự kiện, anh A phản ứng thế này, anh B lại phản ứng thế kia? "Con người - hộp đen" ấy luôn nhận các tín hiệu thông tin đầu vào (X) và luôn phải trả lại bằng các tín hiệu đầu ra (Y). Cách tốt nhất để tiếp cận với con người - tiếp cận với cái hệ thống mà ta không nhìn được vào bên trong đó - là thông qua X và Y. Tìm hiểu "con người - hộp đen" thông qua thông tin đầu vào và thông tin đầu ra chỉ giới hạn ở độ nhạy về thông tin, còn chất lượng của tín hiệu thông tin phản hồi lại là vấn đề khác. Chỉ cần đánh giá hai loại khả năng của một con người là: khả năng tiếp nhận tín hiệu đầu vào X, và xử lý để có được tín hiệu thông tin đầu ra Y là nhanh hay chậm mà thôi. Cũng có thể gọi là tốc độ nhận thức, và tốc độ phản ứng. Nếu biểu thị hai loại khả năng trên bằng trục hoành và trục tung, ta được một "hệ tọa độ tâm lý", mà mỗi góc của hệ tọa độ biểu thị một dạng tính cách của con người.




    Góc I: Những người nhận thức nhanh và phản ứng nhanh Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình sôi nổi. * Nhạy Cảm, thông thái. * Thích khám phá, sáng tạo. * Thường không vừa lòng với thực tại, thích cải tiến, đổi mới. * Dễ đam mê hứng khởi nhưng cũng dễ chán nản bi quan. * Thích làm việc độc lập. * Ở đỉnh cao thường khó hòa nhập với mọi người. Nên dùng những người này vào những công việc đòi hỏi tư duy trí tuệ, cần sự sáng tạo như làm nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, làm công việc kỹ thuật, làm tư vấn, điều tra thị nhường, làm kiểm toán, thanh tra... Góc II: Những người nhận thức nhanh, phản ứng chậm. Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình điềm đạm, chín chắn. * Biết lắng nghe ý kiến người khác. * Dễ hòa nhập vào quần chúng. * Dễ bằng lòng với cuộc sống, công việc. Nên dùng những người này vào những công việc không cần sáng tạo nhiều, nhưng chắc chắn. Những người này thích hợp với vai trò lãnh đạo: trưởng phòng, trưởng nhóm, tổ trưởng sản xuất... họ thường là người tốt và được mọi người yêu mến. Góc III: Những người nhận thức chậm, phản ứng cũng chậm. Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình cần mẫn, lành hiển. * Bằng lòng với cuộc sống, cam chịu. * Trung thành với cấp trên. * Thích công việc ổn định, ngại đổi mới. * Thích lao động chân tay hơn là lao động trí óc. Những người này thích hợp với những công việc đã làm quen thuộc, đã được hướng dẫn cụ thể, ít phải tư duy sáng tạo. Góc IV. Những người nhận thức chậm, nhưng phản ứng nhanh. * Đặc điểm tính cách của những người này là: * Không chín chắn (hồ đồ). * Dễ manh động, liều lĩnh, vô kỷ luật. * Không yên tâm với công việc và cuộc sống. * Hay xung khắc với mọi người. Với những người này phải luôn quan tâm đến vấn đề tư tưởng, tránh cho họ khỏi bị kích động bởi những thông tin sai lệch. Có thể giao cho họ những công việc đòi hỏi sự dũng cảm, nhưng phải có sự động viên giải thích đầy đủ ***Ở mức độ khái quát ta phân tính cách con người thành 4 dạng dựa vào 4 góc của tọa độ tâm lý như trên, khi biểu thị tính cách của một người trên tọa độ tâm lý thì người nào có tính cách nổi trội hơn, người đó được biểu thị bằng điểm cách xa gốc của hệ tọa độ hơn (ví dụ như anh A và anh C). Nếu vẽ thêm đường phân giác của các góc ta có thể phân mỗi góc thành hai phần, đường phân giác là ranh giới phản ánh tương quan giữa độ nhạy về nhận thức và độ nhạy về phản ứng. Hai người cùng thuộc về một góc của toạ độ tâm lý, người này có thể trội hơn người kia về nhận thức nhưng lại kém hơn về phản ứng (anh A và anh B). Tất nhiên đối với con người thì sự phân đỉnh các khả năng như trên cũng chỉ là tương đối, tuy nhiên nếu được tiếp xúc nhiều; nhất là tiếp xúc qua công việc thì việc xác định X và Y của một con người là hoàn toàn có thể. Nguồn: Nhà quản lý
  • Nắm bắt 4 loại cá tính để giao việc đúng



    Posted 4/3/2009 10:45:20 AM by Quản lý mới (Guest)Under L&M SkillsLast comment 4/3/2009 2:32:35 PM
    Nguyễn Thanh Khiết Quản lý suy cho cùng là việc huy động tối đa năng lực của những người dưới quyền mình vào công việc chung. Muốn “dụng nhân tựa dụng mộc” thì phải hiểu về “nhân” Vận dụng Lý thuyết hệ thống xin được đưa ra một phương pháp mới tiếp cận cá tính con người. Phương pháp này xin được lấy tên là: Tiếp cận cá tính con người bằng Lý thuyết hệ thống. Cơ sở lý luận của phương pháp này dựa trên quan niệm: con người nhìn vào tính cách là một "hộp đen" (black box); điều đó có nghĩa là ta không thể nhìn thấy những gì xảy ra trong tư duy của con người, không thể lý giải được tại sao đứng trước cùng một sự kiện, anh A phản ứng thế này, anh B lại phản ứng thế kia? "Con người - hộp đen" ấy luôn nhận các tín hiệu thông tin đầu vào (X) và luôn phải trả lại bằng các tín hiệu đầu ra (Y). Cách tốt nhất để tiếp cận với con người - tiếp cận với cái hệ thống mà ta không nhìn được vào bên trong đó - là thông qua X và Y. Tìm hiểu "con người - hộp đen" thông qua thông tin đầu vào và thông tin đầu ra chỉ giới hạn ở độ nhạy về thông tin, còn chất lượng của tín hiệu thông tin phản hồi lại là vấn đề khác. Chỉ cần đánh giá hai loại khả năng của một con người là: khả năng tiếp nhận tín hiệu đầu vào X, và xử lý để có được tín hiệu thông tin đầu ra Y là nhanh hay chậm mà thôi. Cũng có thể gọi là tốc độ nhận thức, và tốc độ phản ứng. Nếu biểu thị hai loại khả năng trên bằng trục hoành và trục tung, ta được một "hệ tọa độ tâm lý", mà mỗi góc của hệ tọa độ biểu thị một dạng tính cách của con người.




    Góc I: Những người nhận thức nhanh và phản ứng nhanh Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình sôi nổi. * Nhạy Cảm, thông thái. * Thích khám phá, sáng tạo. * Thường không vừa lòng với thực tại, thích cải tiến, đổi mới. * Dễ đam mê hứng khởi nhưng cũng dễ chán nản bi quan. * Thích làm việc độc lập. * Ở đỉnh cao thường khó hòa nhập với mọi người. Nên dùng những người này vào những công việc đòi hỏi tư duy trí tuệ, cần sự sáng tạo như làm nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, làm công việc kỹ thuật, làm tư vấn, điều tra thị nhường, làm kiểm toán, thanh tra... Góc II: Những người nhận thức nhanh, phản ứng chậm. Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình điềm đạm, chín chắn. * Biết lắng nghe ý kiến người khác. * Dễ hòa nhập vào quần chúng. * Dễ bằng lòng với cuộc sống, công việc. Nên dùng những người này vào những công việc không cần sáng tạo nhiều, nhưng chắc chắn. Những người này thích hợp với vai trò lãnh đạo: trưởng phòng, trưởng nhóm, tổ trưởng sản xuất... họ thường là người tốt và được mọi người yêu mến. Góc III: Những người nhận thức chậm, phản ứng cũng chậm. Đặc điểm tính cách của những người này là: * Tính tình cần mẫn, lành hiển. * Bằng lòng với cuộc sống, cam chịu. * Trung thành với cấp trên. * Thích công việc ổn định, ngại đổi mới. * Thích lao động chân tay hơn là lao động trí óc. Những người này thích hợp với những công việc đã làm quen thuộc, đã được hướng dẫn cụ thể, ít phải tư duy sáng tạo. Góc IV. Những người nhận thức chậm, nhưng phản ứng nhanh. * Đặc điểm tính cách của những người này là: * Không chín chắn (hồ đồ). * Dễ manh động, liều lĩnh, vô kỷ luật. * Không yên tâm với công việc và cuộc sống. * Hay xung khắc với mọi người. Với những người này phải luôn quan tâm đến vấn đề tư tưởng, tránh cho họ khỏi bị kích động bởi những thông tin sai lệch. Có thể giao cho họ những công việc đòi hỏi sự dũng cảm, nhưng phải có sự động viên giải thích đầy đủ ***Ở mức độ khái quát ta phân tính cách con người thành 4 dạng dựa vào 4 góc của tọa độ tâm lý như trên, khi biểu thị tính cách của một người trên tọa độ tâm lý thì người nào có tính cách nổi trội hơn, người đó được biểu thị bằng điểm cách xa gốc của hệ tọa độ hơn (ví dụ như anh A và anh C). Nếu vẽ thêm đường phân giác của các góc ta có thể phân mỗi góc thành hai phần, đường phân giác là ranh giới phản ánh tương quan giữa độ nhạy về nhận thức và độ nhạy về phản ứng. Hai người cùng thuộc về một góc của toạ độ tâm lý, người này có thể trội hơn người kia về nhận thức nhưng lại kém hơn về phản ứng (anh A và anh B). Tất nhiên đối với con người thì sự phân đỉnh các khả năng như trên cũng chỉ là tương đối, tuy nhiên nếu được tiếp xúc nhiều; nhất là tiếp xúc qua công việc thì việc xác định X và Y của một con người là hoàn toàn có thể. Nguồn: Nhà quản lý
  • LUẬT CHO - KHÔNG GIÁM; LUẬT CẤM - ĐƯỢC LÀM Bài đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 15 ngày 02-4-2009:

    Luật sư Trương Thanh Đức
    Chủ tịch Công ty Luật BASICO

    Trong một xã hội văn minh, các doanh nghiệp không được làm những gì mà pháp luật ngăn cấm và được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm đoán. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng hiện nay, dường như khó làm được điều đơn giản ấy?
    Luật pháp cho phép mà vẫn không được làm
    Điều 57, Hiến pháp và Điều 7, Luật Doanh nghiệp khẳng định công dân và doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhưng trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có những điều pháp luật đã quy định rõ là được làm, mà các ngân hàng lại vẫn không giám làm.
    Đó là việc thu các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí cấp hạn mức tín dụng, phí thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, phí gia hạn nợ,… Các khoản phí này là bình thường theo thông lệ quốc tế và cũng rất hợp lý ở chỗ, ngân hàng sẽ thu thêm phí khác nhau đối với một số khoản vay, trong trường hợp phải bỏ ra nhiều thời gian và chi phí hơn, thay vì nâng lãi suất đồng loạt đối với khách hàng vay vốn. Điều 54, Luật các TCTD có nhắc đến một trong những quyền của TCTD trong cho vay là “được miễn, giảm lãi suất, phí”. Quy chế Cho vay của TCTD đối với Khách hàng do NHNN ban hành cũng nên rõ việc thu loại phí trả nợ trước hạn. Các loại phí khác tuy không được đề cập đến, nhưng tuyệt nhiên không có văn bản pháp luật nào ngăn cấm hay hạn chế thu phí tín dụng, kể cả các nghị định, thông tư về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, ngày 10-6-2008, NHNN lại có Công văn số 5158, tiếp đó là Công văn số 5455 ngày 19-6-2008 yêu cầu “các tổ chức tín dụng không được thu phí liên quan đến hoạt động cho vay”. Cho đến thời kỳ này, 2 Công văn này vẫn ràng buộc các ngân hàng không được thu bất kỳ loại phí cho vay nào, kể cả trường hợp cho vay dưới trần lãi suất. Như vậy là pháp luật thì cho phép, nhưng chỉ bằng những công văn mà lại cấm thu tất cả các loại phí cho vay là không hợp lý, đặc biệt là loại phí trả nợ trước hạn đã được Điều 478, Bộ luật Dân sự quy định rất rõ: “bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác”.
    Trong tuần, các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt trích dẫn lời của Thống đốc NHNN “Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý” (“Không chấp nhận cho vay đảo nợ” - Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 23-3-2009). Nếu trích dẫn trên là đúng, thì lại là một ví dụ nữa cho thấy, các ngân hàng không được phép làm một việc mà pháp luật không hề cấm đoán. Bởi vì Điều 54, Luật các TCTD đã quy định rất rõ: “Việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ“, tức không phải là hành vi bị cấm. Tiếp đó, Điều 9, Quy chế Cho vay của TCTD đối với khách hàng hiện hành do NHNN ban hành đã cụ thể hoá hơn nữa: “Việc đảo nợ, các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định riêng của NHNN Việt Nam”. Đã hơn 11 năm nay, các TCTD mòn mỏi mong chờ hướng dẫn nghiệp vụ trên. Nay người đứng đầu ngành Ngân hàng lại phủ nhận điều luật trên, phủ nhận trách nhiệm chậm trễ của Ngành mình?
    Luật pháp cấm đoán nhưng lại được làm
    Lãi suất cho vay trong nền kinh tế nói chung, của các ngân hàng nói riêng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định. Giới hạn này đã có hiệu lực từ ngày 01-01-2006 theo Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cho đến tận ngày 19-5-2008, thì các ngân hàng mới “phải” thực hiện, sau khi có Quyết định số 16 của NHNN. Trước đó, các ngân hàng tha hồ cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản. Chính NHNN cũng áp lãi suất đấu thầu giấy tờ có giá lên tới 171% lãi suất cơ bản vào giữa tháng 2-2008.
    Điều luật trên vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng lại được các văn bản dưới luật vận dụng ngược lại hoàn toàn so với việc thu phí cho vay nói trên. Ngày 3-12-2008, NHNN ban hành Quyết định số 33, cho phép Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay với mức khống chế là 165% lãi suất cơ bản. Ngày 23-01-2009, NHNN ban hành Thông tư số 01 hướng dẫn các TCTD được cho vay phục vụ đời sống không bị giới hạn theo mức lãi suất 150% nói trên. Tuy trong văn bản không thể hiện rõ điều này, nhưng trên thực tế đang được chấp nhận lãi suất cho vay trên 200% lãi suất cơ bản. Các văn bản này được ban hành sau khi có Nghị quyết ngày 6-11-2008 của Quốc hội, trong đó có nội dung: “Các TCTD điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả cao”. Với câu chữ như thế này, thì không thể hiểu rằng pháp luật đã cho phép cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản, đặc biệt là đối với loại cho vay tiêu dùng. Không những thế, cả về nguyên lý cũng như thực tế, thì những “dự án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả cao” sẽ là những khoản vay có lãi suất thấp nhất chứ hoàn toàn không cần đến nghị quyết “bật đèn xanh” để cho vay vượt trần lãi suất.
    Như vậy, trước yêu cầu thực tiễn thì có thể là cần thiết, nhưng tất cả lại đều chưa đủ cơ sở pháp lý và việc được làm hay phải làm của các ngân hàng đều không bảo đảm về luật pháp. Ngân hàng không thể không lo ngại nếu giao dịch bị đưa ra xử kiện trước toà án.
    ---------------------------------------------
    Trang 17 mục Quan sát thị trường, chuyên mục Thị trường Tài chính Chứng khoán.
    1 trong 6 bài giới thiệu ngoài bìa.
  • LUẬT CHO - KHÔNG GIÁM; LUẬT CẤM - ĐƯỢC LÀM
    Bài đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 15 ngày 02-4-2009:

    Luật sư Trương Thanh Đức
    Chủ tịch Công ty Luật BASICO

    Trong một xã hội văn minh, các doanh nghiệp không được làm những gì mà pháp luật ngăn cấm và được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm đoán. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng hiện nay, dường như khó làm được điều đơn giản ấy?
    Luật pháp cho phép mà vẫn không được làm
    Điều 57, Hiến pháp và Điều 7, Luật Doanh nghiệp khẳng định công dân và doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhưng trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có những điều pháp luật đã quy định rõ là được làm, mà các ngân hàng lại vẫn không giám làm.
    Đó là việc thu các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí cấp hạn mức tín dụng, phí thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, phí gia hạn nợ,… Các khoản phí này là bình thường theo thông lệ quốc tế và cũng rất hợp lý ở chỗ, ngân hàng sẽ thu thêm phí khác nhau đối với một số khoản vay, trong trường hợp phải bỏ ra nhiều thời gian và chi phí hơn, thay vì nâng lãi suất đồng loạt đối với khách hàng vay vốn. Điều 54, Luật các TCTD có nhắc đến một trong những quyền của TCTD trong cho vay là “được miễn, giảm lãi suất, phí”. Quy chế Cho vay của TCTD đối với Khách hàng do NHNN ban hành cũng nên rõ việc thu loại phí trả nợ trước hạn. Các loại phí khác tuy không được đề cập đến, nhưng tuyệt nhiên không có văn bản pháp luật nào ngăn cấm hay hạn chế thu phí tín dụng, kể cả các nghị định, thông tư về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, ngày 10-6-2008, NHNN lại có Công văn số 5158, tiếp đó là Công văn số 5455 ngày 19-6-2008 yêu cầu “các tổ chức tín dụng không được thu phí liên quan đến hoạt động cho vay”. Cho đến thời kỳ này, 2 Công văn này vẫn ràng buộc các ngân hàng không được thu bất kỳ loại phí cho vay nào, kể cả trường hợp cho vay dưới trần lãi suất. Như vậy là pháp luật thì cho phép, nhưng chỉ bằng những công văn mà lại cấm thu tất cả các loại phí cho vay là không hợp lý, đặc biệt là loại phí trả nợ trước hạn đã được Điều 478, Bộ luật Dân sự quy định rất rõ: “bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác”.
    Trong tuần, các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt trích dẫn lời của Thống đốc NHNN “Luật pháp nghiêm cấm triệt để hành vi đảo nợ trong bất luận trường hợp nào. Bởi vì, một nền kinh tế chấp nhận cho vay đảo nợ, tức là chấp nhận cách làm ăn không mang lại hiệu quả, đồng thời gây thất thoát tài sản, chưa kể gây rối ren trong công tác quản lý” (“Không chấp nhận cho vay đảo nợ” - Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 23-3-2009). Nếu trích dẫn trên là đúng, thì lại là một ví dụ nữa cho thấy, các ngân hàng không được phép làm một việc mà pháp luật không hề cấm đoán. Bởi vì Điều 54, Luật các TCTD đã quy định rất rõ: “Việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ“, tức không phải là hành vi bị cấm. Tiếp đó, Điều 9, Quy chế Cho vay của TCTD đối với khách hàng hiện hành do NHNN ban hành đã cụ thể hoá hơn nữa: “Việc đảo nợ, các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định riêng của NHNN Việt Nam”. Đã hơn 11 năm nay, các TCTD mòn mỏi mong chờ hướng dẫn nghiệp vụ trên. Nay người đứng đầu ngành Ngân hàng lại phủ nhận điều luật trên, phủ nhận trách nhiệm chậm trễ của Ngành mình?
    Luật pháp cấm đoán nhưng lại được làm
    Lãi suất cho vay trong nền kinh tế nói chung, của các ngân hàng nói riêng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định. Giới hạn này đã có hiệu lực từ ngày 01-01-2006 theo Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cho đến tận ngày 19-5-2008, thì các ngân hàng mới “phải” thực hiện, sau khi có Quyết định số 16 của NHNN. Trước đó, các ngân hàng tha hồ cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản. Chính NHNN cũng áp lãi suất đấu thầu giấy tờ có giá lên tới 171% lãi suất cơ bản vào giữa tháng 2-2008.
    Điều luật trên vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng lại được các văn bản dưới luật vận dụng ngược lại hoàn toàn so với việc thu phí cho vay nói trên. Ngày 3-12-2008, NHNN ban hành Quyết định số 33, cho phép Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay với mức khống chế là 165% lãi suất cơ bản. Ngày 23-01-2009, NHNN ban hành Thông tư số 01 hướng dẫn các TCTD được cho vay phục vụ đời sống không bị giới hạn theo mức lãi suất 150% nói trên. Tuy trong văn bản không thể hiện rõ điều này, nhưng trên thực tế đang được chấp nhận lãi suất cho vay trên 200% lãi suất cơ bản. Các văn bản này được ban hành sau khi có Nghị quyết ngày 6-11-2008 của Quốc hội, trong đó có nội dung: “Các TCTD điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả cao”. Với câu chữ như thế này, thì không thể hiểu rằng pháp luật đã cho phép cho vay vượt 150% lãi suất cơ bản, đặc biệt là đối với loại cho vay tiêu dùng. Không những thế, cả về nguyên lý cũng như thực tế, thì những “dự án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả cao” sẽ là những khoản vay có lãi suất thấp nhất chứ hoàn toàn không cần đến nghị quyết “bật đèn xanh” để cho vay vượt trần lãi suất.
    Như vậy, trước yêu cầu thực tiễn thì có thể là cần thiết, nhưng tất cả lại đều chưa đủ cơ sở pháp lý và việc được làm hay phải làm của các ngân hàng đều không bảo đảm về luật pháp. Ngân hàng không thể không lo ngại nếu giao dịch bị đưa ra xử kiện trước toà án.
    ---------------------------------------------
    Trang 17 mục Quan sát thị trường, chuyên mục Thị trường Tài chính Chứng khoán.
    1 trong 6 bài giới thiệu ngoài bìa.
Next page